Cấu thành tội trộm cắp tài sản

232

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là tội danh được quy định tại Điều 138 BLHS hiện hành, tội trộm cắp tài sản là tội có cấu thành vật chất (hậu quả của hành vi là yếu tố bắt buộc để xác định tội phạm).

cau thanh toi trom cap tai san

Cấu thành của tội trộm cắp tài sản như sau:

  1. Về chủ thể của tội phạm

            Chủ thể của tội phạm phải đạt đến một độ tuổi nhất đinh và phải có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Đối với tội trộm cắp tài sản, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, vì khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 138 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Về khách thể của tội phạm

            Cũng giống như những tội xâm phạm sở hữu khác, khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu. Tội trộm cắp tài sản chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu mà không xâm phạm đến quan hệ nhân thân, đây là điểm khác so với tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…Do đó, nếu mục đích ban đầu của người phạm tội chỉ là trộm cắp (xâm phạm quan hệ sở hữu) nhưng trong khi thực hiện hành vi trộm cắp hoặc đã thực hiện xong hành vi trộm cắp, họ lại có hành vi dùng vũ lực hoặc gây thương tích cho người bị hại như hành vi chống trả khi bị đuổi bắt, gây thương tích hoặc gây chết người… (xâm phạm đến quan hệ nhân thân) thì hành vi đó không còn là trộm cắp tài sản nữa mà có thể chuyển hóa thành cướp tài sản hoặc cố ý gây thương tích…

  1. Về mặt khách quan của tội phạm

            – Hành vi khách quan: Lén lút để chiếm đoạt tài sản (che giấu hành vi của mình với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản).

– Hậu quả: Phải chiếm đoạt được tài sản và giá trị của tài sản chiếm đoạt phải từ 2 triệu trở lên, nếu dưới 2 triệu đồng thì phải đáp ứng được điều kiện: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích.

Được coi là đã chiếm đoạt được tài sản khi có sự dịch chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu.

  1. Về mặt chủ quan của tội phạm

            – Lỗi trong tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Nhìn chung, tội trộm cắp tài sản đã được quy định chế tài tương đối rõ ràng, quý khách hàng hãy liên hệ với Luật Việt Tín, chúng tôi sẽ tư vấn để quý khách hàng có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong những trường hợp cụ thể.

Cấu thành tội trộm cắp tài sản
5 (100%) 1 vote