Di chúc có điều kiện

56
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Di chúc có điều kiện là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm định đoạt tài sản của mình sau khi chết.. Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền lập di chúc của người để lại di sản. Thông qua quá trình tư vấn cho quý khách hàng, Luật Việt Tín nhận được khá nhiều những thắc mắc về việc lập di chúc có điều kiện, cụ thể là có một số khách hàng thắc mắc rằng khi lập di chúc thì họ có thể yêu cầu người nhận di sản phải thực hiện những điều kiện nhất định không, ví dụ như họ để lại nhà đất cho một người nhưng yêu cầu người nhận di sản không được chuyển nhượng nhà đất đó, hoặc yêu cầu người nhận di sản không được thay đổi kiến trúc hiện tại của ngôi nhà hoặc chỉ được nhận di sản khi đạt đến một độ tuổi nào đó….Và để giải đáp một số thắc mắc của khách hàng, Luật Việt Tín xin chia sẻ với quý khách hàng một số nội dung liên quan đến vấn đề lập di chúc có điều kiện.

di chúc có điều kiện
di chúc có điều kiện

Trước tiên cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm là “điều kiện của di chúc” và “di chúc có điều kiện”.

Pháp luật bảo hộ quyền lập di chúc của người để lại di sản nhưng hình thức, nội dung di chúc phải dựa trên các quy định pháp luật, tuân thủ các điều kiện của pháp luật mới có hiệu lực pháp luật, những điều kiện để một di chúc được coi là hợp pháp đã được pháp luật quy định cụ thể, đó là điều kiện của di chúc.

Còn di chúc có điều kiện là người để lại di sản muốn người hưởng di sản phải thực hiện những điều kiện nhất định. Di chúc có điều kiện gồm 2 dạng: (1). Người để lại di sản muốn người được thừa kế chỉ được nhận di sản sau khi thực hiện được/ đạt được một số điều kiện mà người để lại di sản đặt ra; (2). Người để lại di sản muốn người được thừa kế phải thực hiện những điều kiện mà người để lại di sản yêu cầu sau khi đã được nhận di sản.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào về di chúc có điều kiện, nhưng theo điểm c khoản 1 điều 653 BLDS “Di chúc phải ghi rõ :… họ, tên, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan tổ chức hưởng di sản”. Với qui định như vậy thì chúng ta có thể suy luận các nhà lập pháp “ ngầm” chấp nhận di chúc có điều kiện. Ngoài quy định rất nhỏ này ra thì không còn một quy định nào khác liên quan đến vấn đề này. Vấn đề đặt ra là nếu di chúc có điều kiện được chấp nhận thì hiệu lực của di chúc là như thế nào, việc thực hiện những điều kiện đó trên thực tế, nếu trong trường hợp điều kiện đó không thể thực hiện được thì sẽ xử lý di sản như thế nào.

Do pháp luật không qui định cụ thể về di chúc có điều kiện nên hiện nay về phương diện pháp lý và thực tế  điều kiện di chúc chỉ được chấp nhận và bắt buộc người hưởng di sản thực hiện khi và chỉ khi điều kiện đó không vi phạm qui định pháp luật và đạo đức xã hội.

Với di chúc có điều kiện ở dạng (1), trong những trường hợp người để lại di sản yêu cầu người thừa kế chỉ được nhận di sản khi đạt được những điều kiện nhất định: Ông A để lại di sản cho con mình, trong di chúc ghi rõ con ông A chỉ được nhận di sản khi đủ 18 tuổi. Như vậy, thời điểm ông A chết (hoặc có quyết định tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật của Tòa án) là thời điểm mở thừa kế, nhưng chỉ khi con ông A đủ 18 tuổi thì di chúc mới có hiệu lực, lúc này con ông A mới chính thức được hưởng di sản thừa kế từ ông A. Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp những điều kiện trong di chúc không vi phạm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nhưng lại không thể thực hiện được trên thực tế ví dụ như trường hợp: Ông B để lại di sản thừa kế cho con, nhưng con chỉ được nhận di sản sau khi đã thi đỗ vào trường đại học Xnào đó, thực tế là đứa con đã học hành rất chăm chỉ, đã thi rất nhiều lần nhưng vẫn không đỗ vào trường đại học nào cả. Ta thấy rằng điều kiện của ông B là không vi phạm pháp luật cũng không trái đạo đức xã hội nhưng đứa con của ông B lại không thể thực hiện được điều kiện đó trên thực tế, như vậy trong trường hợp này di sản sẽ xử lý như thế nào.

Với di chúc có điều kiện ở dạng (2), Người để lại di sản muốn người được thừa kế phải thực hiện những điều kiện mà người để lại di sản yêu cầu sau khi đã được nhận di sản, ví dụ như trường hợp: Ông C để lại nhà đất cho con trai mình nhưng yêu cầu con trai không được chuyển nhượng tài sản đó cho bất kỳ ai. Ta biết rằng theo quy định của Luật đất đai thì: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng , cho…quyền sử dụng đất và không ai có thể hạn chế quyền này trừ các cơ quan có thẩm quyền, như vậy phải chăng di chúc của ông C là không hợp pháp.

Bên cạnh đó việc thực hiện những di chúc có điều kiện ở dạng này là không khả thi trên thực tế, vì rất khó để kiểm soát việc người con trai bạn có thực hiện theo đúng ý nguyện của người để lại di sản hay không. Bởi lẽ, sau khi người để lại di sản chết, theo quy định của pháp luật, con trai của người đó có quyền làm thủ tục theo để đăng ký sang tên quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà người con trai được nhận theo di chúc, các cơ quan thực hiện thủ tục sang tên này cũng không ghi nhận điều kiện chuyển nhượng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giấy chứng nhận). Khi đã trở thành chủ sở hữu khối tài sản được thừa kế, người con trai có toàn quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) nên việc bán hay không bán khối tài sản này tùy thuộc vào người con trai đó.

Với di chúc có điều kiện ở dạng này, nếu người hưởng di sản thực sự muốn tài sản của mình sẽ không bị chuyển dịch thì có thể lập di chúc theo hướng tài sản dùng vào việc thờ cúng, đó là người để lại di sản sẽ để lại nhà đất cho con trai mình đồng thời giao cho con trai trực tiếp thực hiện việc thờ cúng và được ở trên nhà đất này thì người con trai sẽ không được chuyển nhượng cho người khác. Trường hợp này được quy định cụ thể tại Ðiều 670, Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, đây chỉ là một trường hợp có thể giải quyết được trong rất nhiều những trường hợp có thể xảy ra với di chúc có điều kiện.

* Việc thừa nhận di chúc có điều kiện trong pháp luật Việt Nam

Như đã nói ở trên việc thực hiện các di chúc có điều kiện trên thực tế xảy ra muôn vàn những tình huống khác nhau, bởi hiện nay pháp luật cũng chưa có những quy định cụ thể về vấn đề này, mà chỉ tùy vào từng trường hợp cụ thể và những kinh nghiệm thực tiễn mà trong mỗi trường hợp mới có những cách xử lý khac nhau. Việc thừa nhận di chúc có điều kiện trong pháp luật Việt Nam sẽ có những mặt lợi và hại khác nhau.

Về cơ bản nếu thừa nhận di chúc có điều kiện trong pháp luật nước ta sẽ thỏa mãn được mong mỏi của nhiều người, cũng như hoàn thiện được hệ thống pháp luật tạo hành lang pháp lý để giải quyết những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên nếu không được quy đĩnh một cách rõ ràng thì việc thừa nhận di chúc có điều kiện vô hình chung sẽ tạo điều kiện cho người chết có thể thao túng người sống, hay nói cách khác là dù đã chết rồi nhưng vẫn có quyền sử dụng tài sản để yêu cầu người sống thực hiện những điều kiện do mình đưa ra. Bởi, thực tế có thể những điều kiện là hợp pháp, là đúng chuẩn mực xã hội nhưng cũng có những điều kiện đó không thực sự “tốt” như bản chất mà nó nên có, gây ảnh hưởng đến người khác, và gián tiếp ảnh hưởng đến xã hội.

Và để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quý khách hàng hãy liên hệ với Luật Việt Tín, chúng tôi sẽ tư vấn và hỗ trợ khách hàng trong từng trường hợp cụ thể.

Di chúc có điều kiện
Đánh giá bài viết

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.