Lập thừa kế tài sản trong gia đình

7
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Để quý khách hàng hiểu rõ hơn về quan hệ pháp luật thừa kế giữa những người trong gia đình, Luật Việt Tín xin cung cấp một số thông tin về lập thừa kế tài sản trong gia đình.

lap thua ke tai san trong gia dinh
Lập thừa kế tài sản trong gia đình
  1. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được xác định theo hàng thừa kế, về nguyên tắc những người ở cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Hàng thừa kế thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

+ Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng – Điều 680 BLDS 2005 (Điều 655 BLDS 2015)

Vợ hoặc chồng sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau. Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp.

Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản.

Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa kế.

Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

+ Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ và con đẻ

Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau. Con đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và ngược lại.

+ Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại:

Con nuôi được hưởng thừa kế từ cha mẹ nuôi nhưng không đương nhiên được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ của cha mẹ nuôi. Và ngược lại cha mẹ đẻ của cha mẹ nuôi không đương nhiên được hưởng thừa kế từ người con nuôi đó.

Trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi kết hôn với người khác thì người con nuôi đó không đương nhiên trở thành con nuôi của người đó, cho nên họ không phải là người thừa kế của nhau theo pháp luật.

Con nuôi của một người cũng không được thừa kế thế vị di sản của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc cha nuoii, mẹ nuôi của người đó.

Người đã làm con nuôi người khác vẫn có quan hệ thừa kế với cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cô, bác, chú, dì, cậu ruột.

+ Quan hệ thừa kế giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế:

Nếu có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau như cha con, mẹ con thì được hưởng thừa kế tài sản của nhau và còn được hưởng thừa kế tài sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 BLDS 2005.

– Hàng thừa kế thứ hai: Gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, am ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

+Quan hệ thừa kế giữa ộng nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại và ngược lại:

Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người sinh ra nẹ của cháu. Nếu cháu (ruột) chết thì ông bà nội, ông bà ngoại ở hàng thừa kế thứ hai của cháu và ngược lại.

Trong trường hợp ông bà chết nhưng cha mẹ cháu không được hưởng thừa kế mặc dù vẫn còn sống (bị truất quyền thừa kế, không có quyền hưởng di sản), thì cháu ruột của ông bà cũng không được hưởng di sản vì không thuộc hàng thừa kế của ông bà.

+ Quan hệ thừa kế giữa anh chị ruột với em ruột và ngược lại:

Anh, chị, em ruột có thể cùng cha mẹ, cùng cha hoặc cùng mẹ. Do không phân biệt con trong giá thú hay con ngoài giá thú, nếu anh, chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng  thừa kế theo hàng thừa kế thứ hai của anh chị ruột và ngược lại.

Theo quy định thì chỉ anh chị em ruột mới thuộc hàng thừa kế thứ 2 của nhau nên nếu không có quan hệ huyết thống thì anh chị em không có quan hệ thừa kế với nhau. Như vậy, con riêng của vợ, con riêng của chồng không phải là anh chị em ruột của nhau. Con nuôi của một người không đương nhiên trở thành anh, chị, em của con đẻ người đó. Do vậy, con nuôi, con riêng và con đẻ của một người không thuộc hàng thừa kế thứ hai của nhau. Người làm con nuôi người khác vẫn được hưởng thừa kế hàng thứ hai của anh chị em ruột mình. Người có anh, chị, em ruột làm con nuôi người khác vẫn là người thừa kế hàng thứ hai của người đã làm con nuôi người khác đó.

– Hàng thừa kế thứ ba: Gồm cụ nội, cụ ngoai của người chết; Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

+Quan hệ thừa kế giữa cụ nội với chắt nội, giữa cụ ngoại với chắt ngoại và ngược lại: Cụ nội là người sinh ra ông hoặc bà nội của người đó, cụ ngoại là người sinh ra ông hoặc bà ngoại của người đó. Trong trường hợp cụ nội, cụ ngoại mất không có người thừa kế là con, cháu hoặc có người thừa kế nhưng họ đều từ chối hoặc bị truất quyền hưởng thừa kế thì chắt sẽ được hưởng di sản của cụ.

+ Quan hệ thừa kế giữa bác ruột, cô ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột với cháu ruột và ngược lại: Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột là anh chị em ruột của bố hoặc mẹ của cháu. Khi cháu ruột chết, anh chị em ruột của bố, mẹ thuộc hàng thừa kế thứ ba của cháu và ngược lại.

  1. Thừa kế theo di chúc

Đối với trường hợp thừa kế theo di chúc thì việc phân chia tài sản đã được định đoạt trong di chúc. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ bởi đây đều là những người có mối quan hệ thân thiết gần gũi nhất với người để lại di sản hoặc là những người có quan hệ phụ thuộc, những người mà người để lại di sản có nghĩa vụ cấp dưỡng (con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động) thì pháp luật vẫn quy định ngay cả trong những trường hợp trong di chúc không cho họ được hưởng thì họ vẫn được hưởng một phần bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Điều 669 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

  1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
  2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.’

 Hãy liên hệ với Luật Việt Tín, chúng tôi sẽ tư vấn cho quý khách hàng trong từng trường hợp cụ thể.

 

Lập thừa kế tài sản trong gia đình
Đánh giá bài viết

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.