Hành vi mua bán trái phép chất ma túy

8
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Vụ Việc:

Giàng Pá S ( còn có tên gọi khác là Giàng Pá S, Giàng Pà S, Giàng Pă S, Giang Pa S sinh năm 1946; trú tại bản m xã N, huyện Đ, tỉnh L; dân tộc H’mông; trình độ văn hóa: lớp 01/10 làm ruộng; con ông Giàng Trừ Tú (đã chết) và bà Mùa Thị Dung; bị bắt giam từ ngày 7 tháng 8 năm 2011.

luat-su-bao-chua-1170x466 (2)

 

Do có sự thống nhất, thỏa thuận trước giữa Nguyễn Trọng Đ, Giàng Pá S với hai người khách mua ma túy gồm một nam, một nữ, ngày 17 tháng 8 năm 2011 Nguyễn Trọng Đ dùng xe máy đèo người khách nữ đến khu vực Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ gặp Giàng Chứ T nhận 5 bánh hêrôin có trọng lượng 1,75 kg vận chuyển về nhà Đ. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng Đ cùng Giàng Pá S và hai người khách đó đang giở hàng để kiểm tra thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở trong lúc bắt giữ, hai người khách chạy thoát, còn S và Đ bị bắt giữ.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì họ và tên của bị cáo được thể hiện khác nhau là Giảng Pà S, Giàng Pa S, Giàng Pă S. Những tài liệu này thể hiện không đúng họ và tên chính thức của bị cáo vì theo biên bản xác minh ngày 26 tháng 9 năm 2011 có mặt ông Quàng Văn X (chủ tịch xã N), ông Nguyễn Ngọc L (Phó Chủ tịch, Trưởng công an xã N ), ông Giàng Chái M ( em ruột bị cáo), bà Mùa Thị N (vợ bị cáo ) và Giàng A C (con đẻ bị cáo ) cùng cán bộ Phòng cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thì họ và tên chính thức của bị cáo tại lý lịch bị can do Công an tỉnh L cung cấp ngày 26 tháng 9 năm 2011. Vì vậy, tại Bản án phúc thẩm số 1846/HSPT ngày 30 tháng 9 năm 2012, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xác định họ và tên của bị cáo là Giàng Pá S (họ và tên ghi trong lý lịch tư pháp là Giàng Pà S, bị cáo khai còn có tên gọi là Giàng Pă S ) là không chính xác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh L phạt Giàng Pá S tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy. Tại Bản án hình sự phúc thẩm, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội phạt Giàng Pá S (Giàng Pà S) còn gọi là Giàng Pă S tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy.

Hỏi: 

  1. Nếu họ và tên của bị cáo không đúng với họ và tên chính thức của bị cáo thì phải giải quyết như thế nào?
  2. Giả sử Giàng Pà S là người nước ngoài nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam thì vụ án được giải quyết như thế nào?
  3. Nếu Giàng Pà S không biết tiếng Việt, vậy Giàng Pà S có được sử dụng ngôn ngữ của dân tộc H’Mông trong quá trình tố tụng không?
  4. Giả sử Giàng Pà S không yêu cầu người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ giải quyết như thế nào?
  5. Theo hồ sơ vụ án, Giàng Pà S là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa 1/10. Vậy cơ quan tiến hành tố tụng có thể không truy cứu trách nhiệm hình sự với Giàng Pà S được không?

Gợi ý trả lời:

  1. Điều 371 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:

  1. Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
  1. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
  1. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 373 Bộ Luật Tố Tụng hình sự 2015 quy định Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

  1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  1. Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
  1. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Căn cứ vào các quy định trên và tình tiết của vụ án, chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa lại họ và tên bị cáo cho đúng với họ và tên chính thức của bị cáo.

2.  Điều 3 Bộ Luật Tố Tụng Hình sự quy định hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  2. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Căn cứ vào quy định trên, nếu Giàng Pà S là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam thì vụ án được giải quyết bằng con được ngoại giao.

3. Căn cứ Điều 29 Bộ Luật Tố Tụng Hình sự 2015 quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự

Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch.

Theo đó nếu Giàng Pà S không biết tiếng Việt thì Giàng Pà S có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng trong trường hợp này cần phải có phiên dịch.

4. Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

Nếu Giàng Pà S không nhờ người bào chữa thì Cơ quan điều tra phải làm văn bản yêu cầu Đoàn Luật sư thuộc địa bàn Cơ quan điều tra đang thụ lý cử người bào chữa cho Giàng Pà S.

5. Căn cứ Điều 9 Bộ Luật Tố Tụng Hình sự 2015 quy định về Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật

Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.

Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Theo đó không phân biệt Giàng Pà S là người dân tộc H’ Mông hay người Việt, nếu phạm tội đều bị xử ký theo pháp luật.

 

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy
Đánh giá bài viết

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.